Sầu riêng tăng trưởng quá nhanh, quá "nóng", đây là giai đoạn ưu tiên kiểm soát chất lượng

Theo lãnh đạo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), kể từ khi ký Nghị định thư xuất khẩu sầu riêng chính ngạch sang Trung Quốc, ngành hàng này đã phát triển quá nhanh, quá nóng, điều đó, đã bộc lộ nhiều khó khăn trong công tác quản lý, sản xuất và tiêu thụ.

Đó là đánh giá của ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tại Tọa đàm: "Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng, kiến tạo phát triển bền vững", do Báo Tiền phong tổ chức, sáng 20/8.

Sầu riêng phát triển quá nóng, gây nhiều hệ lụy

Sầu riêng đang giữ vị trí dẫn đầu trong nhóm rau quả xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 3,86 tỷ USD, tăng hơn 20% so với năm trước và chiếm trên 45% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả.

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, riêng tháng 7, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 600-700 triệu USD, đưa kim ngạch 7 tháng lên khoảng 1,8 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Từ nay đến cuối năm, dự kiến khoảng 1,3 triệu tấn sầu riêng bước vào kỳ thu hoạch, tạo dư địa để xuất khẩu tiếp tục tăng mạnh.

Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho hay, sầu riêng là cây trồng quan trọng của ngành hàng trồng trọt Việt Nam và là ngành hàng phát triển nhanh trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt phát triển rất nhanh trong 5 năm vừa qua.


Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.

Điều đó được thể hiện khi năm 2015, cả nước mới có khoảng 31.000 ha sầu riêng thì đến năm 2020, diện tích tăng lên trên 70.000 ha. Tăng mạnh nhất, giai đoạn 2020-2025, diện tích đã tăng gần gấp 3 lần, đạt khoảng 195.000 ha vào cuối năm 2025. Song song với đó, sản lượng cũng tăng rất nhanh, từ khoảng 600.000 tấn năm 2020 lên 1,8 triệu tấn năm 2025 và dự kiến vượt 2 triệu tấn trong năm 2026.

Ông Mạnh thừa nhận, sự phát triển quá nhanh, thậm chí có thể gọi là "quá nóng", đã bộc lộ nhiều khó khăn trong quản lý, sản xuất và tiêu thụ sầu riêng. Trước hết là việc kiểm soát chất lượng khi diện tích tăng mạnh. Bên cạnh đó, nhiều địa phương phát triển sầu riêng ở những vùng không phù hợp với điều kiện sinh thái.

"Có những vùng không được khuyến cáo trồng sầu riêng nhưng vẫn phát triển diện tích. Và chúng ta đã phải trả giá", ông Mạnh nói.

Ngoài ra, việc phát triển diện tích quá nhanh cũng đặt ra bài toán về quản lý chất lượng giống, kiểm soát sinh vật gây hại trên quy mô sản xuất lớn cũng như công tác cấp, quản lý và sử dụng mã số vùng trồng theo yêu cầu của các nước nhập khẩu.


Ông Nguyễn Trí Ngọc, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

Còn theo ông Nguyễn Trí Ngọc, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), do diện tích sầu riêng tăng quá nhanh trong thời gian ngắn đã phá vỡ quy hoạch, điều đó gây hệ lụy và khó khăn rất lớn trong cấp, quản lý mã số vùng trồng? quy trình canh tác, bảo quản, chế biến, xuất khẩu...

Ông Ngọc cho rằng, nếu không có chế tài, việc thực hiện quy hoạch vùng trồng sầu riêng sẽ rất khó khăn. Chúng ta cần những phương thức quản lý, những chế tài mang tính khả thi. Đặc biệt, hiện nay chúng ta thực hiện chính quyền hai cấp, sức mạnh quản lý gần với địa bàn hơn. Đây là điều kiện để quản lý tốt hơn việc phát triển vùng trồng.

Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam Nguyễn Thanh Bình cho hay, chất lượng, năng lực kiểm nghiệm, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và thủ tục thông quan đang là những điểm nghẽn lớn của ngành sầu riêng. Nếu không sớm tháo gỡ, doanh nghiệp và người trồng sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro khi xuất khẩu.

Chất lượng là điểm nghẽn lớn nhất của ngành sầu riêng hiện nay. Các thị trường nhập khẩu ngày càng siết tiêu chuẩn, đặc biệt về Cadimi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sinh vật gây hại. Trong đó, vấn đề Cadimi và Vàng O đã được đặt ra từ cuối năm 2024 nhưng vẫn cần hướng dẫn cụ thể, nhất là quy trình xử lý Cadimi trong đất nhằm hạn chế nguy cơ tồn dư trong sản phẩm.

Năng lực kiểm nghiệm cũng cần được tăng cường. Việt Nam hiện có 50 cơ sở kiểm nghiệm được Trung Quốc công nhận, nhưng tại các vùng sản xuất lớn, đặc biệt Tây Nguyên, cơ sở kiểm nghiệm vẫn thiếu. Việc phải vận chuyển mẫu đi xa, chờ kết quả lâu làm tăng chi phí và ảnh hưởng tiến độ xuất khẩu. Vì vậy, cần chính sách khuyến khích đầu tư thêm các phòng kiểm nghiệm tại vùng sản xuất tập trung.
Việt Nam được cấp 567 mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sầu riêng

Làm rõ đối với năng lực kiểm nghiệm sầu riêng hiện nay, ông Phạm Văn Duy, Phó Cục trưởng Cục Chế biến, chất lượng và Phát triển thị trường cho biết, xét trên tổng thể, năng lực của hệ thống phòng kiểm nghiệm hiện cơ bản đáp ứng các cái nhu cầu kiểm nghiệm sầu riêng để xuất khẩu sang Trung Quốc, kể cả giai đoạn cao điểm. Tính từ ngày 5/8/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) đã chấp thuận cho Việt Nam 50 phòng kiểm nghiệm đủ tiêu chuẩn phân tích các chỉ tiêu như Cadimi và Vàng o, tổng công suất có thể đạt đến 10.000 - 13.000 mẫu/ngày.


Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt 3,8 tỷ USD.

Đến ngày 14/8, họ lại chấp nhận mở thêm 2, hai phòng nữa. Riêng khu vực Tây Nguyên, hiện có 7 phòng kiểm nghiệm với năng lực xử lý trên 1.000 mẫu/ngày. Về cao điểm, dự báo khu vực Tây Nguyên có thể xuất khẩu 800 – 900 lô/ngày, tương ứng với mẫu kiểm nghiệm có thể từ 2.000 – 2.500 mẫu. Năng lực kiểm nghiệm của Tây Nguyên hiện đã trên 1.000 mẫu, tức là vấn đề giải quyết tại chỗ đã được khoảng trên một nửa.

Đặc biệt, nếu chúng ta điều phối liên vùng thì chúng ta hoàn toàn chủ động, thừa sức đáp ứng việc kiểm nghiệm. Tại TPHCM, Cần Thơ, Cà Mau và khu vực lân cận, năng lực kiểm nghiệm còn khoảng 10.000 mẫu/ngày. Trên dọc tuyến vận chuyển từ vùng trồng ra cửa khẩu Trung Quốc, các phòng kiểm nghiệm tại Đà Nẵng, Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Lạng Sơn cũng có công suất hơn 2.000 mẫu/ngày.

“Thời điểm hiện nay so với cùng thời điểm năm ngoái thì năng lực phòng kiểm nghiệm của chúng ta đã tăng khoảng gấp 3 lần… Năng lực kiểm nghiệm chúng ta bây giờ đã rất tốt rồi”, ông Duy nói.

Để đảm bảo tính minh bạch và ngăn chặn tình trạng gian lận, làm giả kết quả kiểm nghiệm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành các quy định hướng dẫn rất cụ thể. Quan điểm của Cục Chế biến, chất lượng và Phát triển thị trường là phải kiểm soát toàn bộ chuỗi quy trình, từ khâu lấy mẫu đến khi phát hành kết quả cuối cùng, thay vì chỉ kiểm tra phiếu kết quả. Các giải pháp kỹ thuật trọng tâm gồm chuẩn hóa quy trình lấy mẫu; ứng dụng số trong quản lý mẫu lấy mẫu và ban hành kết quả; tăng cường hậu kiểm và xử lý vi phạm.


Tọa đàm: "Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng, kiến tạo phát triển bền vững", do Báo Tiền phong tổ chức, sáng 20/8.

Trong khi đó, ông Nguyễn Quốc Mạnh thông tin, không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia khác cũng đang đẩy mạnh phát triển sầu riêng. Nếu tiếp tục mở rộng diện tích và sản lượng với tốc độ như giai đoạn vừa qua, nguy cơ dư thừa nguồn cung là điều cần tính đến.

Vì vậy, ngành sầu riêng cần tập trung nâng ưu tiên kiểm soát chất lượng. Bên cạnh đó, nghiên cứu phát triển giống sầu riêng mới có chất lượng tốt hơn.

Một vấn đề đặc biệt quan trọng trong quản lý chất lượng là bảo đảm an toàn thực phẩm. Trong đó, việc kiểm soát dư lượng và sinh vật gây hại cần được đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói vẫn cần tiếp tục được quan tâm. Nghị quyết 36 đã được ban hành và đang được triển khai thực hiện. Song song với việc thực hiện Nghị quyết 36, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục nghiên cứu sửa đổi Nghị định 38 để bảo đảm không có khoảng trống chính sách khi Nghị quyết 36 kết thúc. Việc sửa đổi Nghị định 38 cũng sẽ bám sát các định hướng đã được xác lập trong Nghị quyết 36.

Liên quan đến việc cấp mã số vùng trồng đối với những diện tích nhỏ lẻ, ý kiến của doanh nghiệp là xác đáng. Về nguyên tắc, khi người dân có nhu cầu và đủ điều kiện thì cơ quan quản lý phải thực hiện cấp mã số, không phân biệt diện tích lớn hay nhỏ, phục vụ cả mục đích xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.

Tuy nhiên, nếu cấp mã số riêng lẻ cho từng diện tích nhỏ sẽ gây áp lực lớn về nguồn nhân lực cho công tác kiểm tra, xác minh, đồng thời làm tăng chi phí quản lý. Vì vậy, Nghị quyết 36 đã đưa ra giải pháp là khuyến khích các hộ dân liên kết với nhau để hình thành vùng trồng có quy mô lớn và cấp chung một mã số.

Đây là chính sách khuyến khích, không phải quy định bắt buộc. Mục tiêu cuối cùng là vừa tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, vừa nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chất lượng, an toàn của sản phẩm sầu riêng cho cả mục đích xuất khẩu và nội địa.
Theo Dân Việt
Bài viết đóng góp, xin gửi về email: taichinhthuongmai@gmail.com